Giới thiệu Nội quy Webmail Liên hệ
:: Vị trụ trì Nhất Tâm Thiện Đạo, luôn tích cực đóng góp cho xã hội :: Đam mê gắn với cuộc đời nghệ nhân :: Một số thông tin về nhân vật cai đội Nguyễn Văn Phụng ở xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên
GIỚI THIỆU

An Giang

Địa danh “An Giang” bắt đầu có từ năm Nhâm Thìn 1832, sau khi Minh Mạng đổi “Ngũ trấn” là Phiên An, Biên Hoà, Định Tường, Hà Tiên, Vĩnh Thanh thành “Lục tỉnh ” là Phiên An, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long, Hà Tiên và An Giang. Tĩnh An Giang khi đó được thành lập từ trấn Vĩnh Thanh (trấn Vĩnh Thanh được chia thành 2 tỉnh là An Giang và Vĩnh Long). Tỉnh An Giang bấy giờ gồm 2 phủ (Tuy Biên, Tân Thành) và 4 huyện (Tây Xuyên, Phong Phú, Đông Xuyên, Vĩnh An). Tên tỉnh An Giang được duy trì cho đến 1868 (năm 1868, Pháp chia An Giang thành 3 hạt: Châu Đốc, Sa Đéc và Ba Xuyên). Sau nhiều lần thay đổi, sát nhập các khu vực hành chính với nhiều tên gọi khác nhau, đến năm 1956, tỉnh An Giang lại được tái lập bao gồm tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên (1956 - 1964). Năm 1964 tỉnh An Giang được tách thành tỉnh Châu Đốc và tỉnh An Giang. Tỉnh An Giang 1964 - 1975 chỉ bao gồm tỉnh Long Xuyên cũ. Từ tháng 12/1975, tỉnh An Giang được thành lập bao gồm Long Xuyên và Châu Đốc.

Theo Nguyễn Đình Đầu, từ 1832 đến 1868, tỉnh An Giang rộng khoảng 15.000 km2. Từ năm 1868 đến 1955 không còn địa danh An Giang. Hiện nay,tỉnh An Giang rộng 3.424,3 km2. Trước đó, tỉnh An Giang (Long Xuyên cũ) rộng khoảng 1.903 km2.

CÁI DẦU

Tên một thị trấn và một chợ thuộc huyện Châu Phú. Đây là nơi thu thủy lợi khoảng năm 1875 trên sông Hậu.

CÁI XOÀI

Tên một con rạch và cái chợ thuộc xã Kiến Thành, huyện Chợ Mới.

CHÂU ĐỐC

Châu Đốc là một trong 3 đạo được chúa Nguyễn thành lập năm 1757 (đạo Châu Đốc, đạo Tân Châu và đạo Đông Khẩu) nhằm tăng cường việc phòng thủ ở tuyến biên giới. Đời Gia Long mộ dân đến ở còn gọi là Châu Đốc Tân Cương. Năm 1868, sau khi chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây, thực dân Pháp chia Lục tỉnh thành 24 hạt tham biện, Châu Đốc trở thành hạt Châu Đốc (phủ Tuy Biên cũ). Năm 1899, Pháp đổi hạt thành tỉnh. Châu Đốc trở thành tỉnh Châu Đốc (1899 - 1955). Năm 1956, tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên được nhập lại thành tỉnh An Giang (1956 -1964). Năm 1964, tỉnh An Giang lại được chia thành 2 tỉnh: Châu Đốc và An Giang (tỉnh Long Xuyên cũ). Đến tháng 12/1975, tỉnh An Giang được thành lập bao gồm Long Xuyên và Châu Đốc (trừ huyện Thốt Nốt). Châu Đốc trở thành thị xã, cách Long Xuyên 55 km về hướng bắc.

CHÂU HÀ (1971-1974)

Tên tỉnh được thành lập trong thời kháng chiến chống Mỹ (1971); bao gồm 6 huyện Tịnh Biên, Tri Tôn, Huệ Đức (Núi Sập), Hà Tiên, Phú Quốc và Châu Thành (Rạch Giá). Năm 1974, tỉnh Châu Hà được đổi thành Long Châu Hà gồm tỉnh Châu Hà cũ, huyện Châu Thành (Long Xuyên) và huyện Châu Phú. Đồng thời, tỉnh An Giang khi đó được đổi thành Long Châu Tiền.

CHẮC CÀ ĐAO

Tên một con rạch đổ ra sông Hậu cách thành phố Long Xuyên 9 km về hướng bắc, còn là tên của chợ thuộc xã Hoà Bình Thạnh (huyện Châu Thành). Có giả thuyết cho rằng Chắc Cà Đao được đọc trại ra từ tiếng Khmer Chắp kdam. Chắp là bắt, Kdam là cua, Chắp kdam nghĩa là bắt cua, giả thiết này cho rằng xưa vùng này có nhiều cua biển và bắt cua là nghề phổ biến của người dân trong vùng. Cũng có giả thiết cho rằng Chắc Cà Đao là do tiếng Prek Pedao, Prek là sông, rạch; Pedao là dây mây, Prek Pedao là rạch có mây rừng mọc. Đây là một địa danh nhiều người biết vì thời Ngô Đình Diệm, tướng của quân đội Hòa Hảo là Lê Quang Vinh (Ba Cụt) bị bắt tại đây.

CHỢ MỚI

Tên một huyện cù lao của tỉnh An Giang. Từ tên một ngôi chợ lâu ngày trở thành tên một huyện. Đây chỉ ngôi chợ mới cất ở làng Long Điền, nay là thị trấn Chợ Mới. Còn chợ cũ có sẩn gần đó là chợ Phó bái Định (nay không còn nữa). Theo người xưa kể lại thì do nơi đây có nhà của ông Phó bái tên Định. Phó bái là một chức danh sau chánh bái của Ban quản trị đình.

CHỢ THỦ

Trước gọi là chợ Chiến Sai, lâu ngày đọc trại thành chợ Kiến Sai. Chợ ở về hướng tây sông Trà Thôn và bờ hướng tây của sông Tiền theo hướng tây nam thông với sông Lễ Công (sông Ông Chưởng), cách hướng tây đạo Đông Khẩu 80 dặm. Ngày trước, nơi đây có lập đồn thủ có nhiều lính trấn giữ chống quân Miên và Xiêm La nên gọi là Thủ Chiến Sai (thủ tức là đồn để canh giữ, bảo vệ việc đi lại trên đường sông). Tại đây, vào đầu xuân Giáp Ngọ (1834), quân ta đã đánh một trận thủy chiến rất ác liệt tiêu diệt quân Xiêm. Ở đây lập chợ gọi là chợ Chiến Sai. Thời Nguyễn Ánh, thủ Chiến Sai cùng với đạo Tân Châu (ở cù lao Giêng) đều được dời lên Tân Châu (thuộc tỉnh Châu Đốc). Từ đó, vùng Chợ Mới được gọi là Cựu Thủ Chien Sai. Thời Minh Mạng (1840), vùng chợ Thủ nầy được đổi thành bảo An Lạc (bảo là đồn nhỏ). Chợ Thủ hiện nay được xây cất khang trang ở đầu rạch Trà Thôn thuộc xã Long Điền A, huyện Chợ Mới.

CÙ LAO CÁI VỪNG

Gia Định Thành thông chí viết về cù lao này như sau: “Ở thủy lưu Tiền Giang, dài hơn 47 dặm, lồi lũng cạnh khía, hình giống đầu rồng, ở cách thủ đạo Tân Châu 5 dặm, cách phía tây trên 174 dặm, kế hướng đông là cù lao Tán Dù (dù và lọng), lại hướng đông nữa là cù lao Đồ Bà, bày hàng chữ “Nhứt” có thứ lớp lớn nhỏ, có làng Tân Phú. Nơi đây rừng tre xanh rậm, sông sâu nước chảy, bờ phía tây là thủ sở Tân Châu, bờ phía đông là thủ sở Chiến Sai, bờ phía bắc là thủ sở Hồng Ngự, địa thế hùng quan ngăn chận chỗ hiểm yếu, đúng là nơi thuở đàng cựu lập đồn thủ ngăn giữ nước láng giềng Cao Miên”. Cù lao Cái Vừng gồm 2 xã Long Thuận và Phú Thuận.

CÙ LAO GIÊNG

Cù lao Giêng bao gồm các xã Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân của huyện Chợ Mới ngày nay. Ban đầu cù lao này có 4 làng: Tấn Đức (Tân Đức), Bình Phước Xuân, Mỹ Chánh, Mỹ Hưng, sau nhập 2 làng Mỹ Chánh và Mỹ Hưng thành làng Mỹ Hiệp. Cù lao Giêng còn được gọi là Dinh Chầu hay Doanh Châu ( Giêng do Doanh hay Dinh nói trại ra, ý nói cù lao đẹp như cõi tiên hay là nơi an cư lạc nghiệp). Cù lao Giêng còn có tên khác là Cù lao đầu nước còn được viết là Cù lao Diên.

Cù lao Giong xưa là đất của Tân Châu đạo, vùng này trước kia dân cư đông đúc, có nhiều rừng tre xanh mướt giao nhau, nhân dân ở đó sống bằng nghề chài lưới đánh bắt cá tôm. Cù lao Giêng cũng nổi tiếng từ xưa về nghề trồng dâu nuôi tằm và sản xuất tơ lụa.

CÙ LAO ÔNG HỔ

Còn gọi là cù lao Mỹ Hòa Hưng thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Sử cũ gọi là trấn Ba Châu, theo nghĩa cù lao che chở cho vàm rạch, ngăn cản sóng gió, thuộc làng Bình Đức trước kia. Vtên cù lao Ông Hổ, có nhiều huyền thoại khác nhau. Có sự tích kể rằng vùng này trước đây hoang vu, cây cối rậm rạp có nhiều thú dữ, hổ báo thường xuyên về quậy phá dân làng. Sau có một ngư ông già diệt được rồi mất dấu. Nhân dân ghi nhớ công ơn vội lập miếu thờ gọi là thờ ông Hổ, tên mà người dân trong vùng đặt cho lão ngư ông dũng cảm ấy. Cũng còn có những sự tích khác về cù lao Ông Hổ. Cù lao Ông Hổ dài hơn 9 km gồm có 2 cồn với diện tích hơn 15 km2: Cồn nhỏ là ấp Mỹ Thạnh; cồn lớn có 5 ấp là Mỹ Thuận, Mỹ Hiệp, Mỹ Khánh, Mỹ Long, Mỹ An. Ngày nay, cù lao Ông Hổ có đền thờ Chủ tịch Tôn Đức Thắng và nhiều vườn cây ăn trái, là một trong những điểm du lịch của tỉnh An Giang.

HÒA HẢO (làng Hòa Hảo)

Làng Hòa Hảo (xưa) nay nằm trên địa giới hành chính của thị trấn Phú Mỹ và xã Tân Hòa thuộc huyện Phú Tân. Trung tâm của làng Hòa Hảo với các ấp Thượng và ấp Trung cũng là trung tâm huyện lỵ Phú Tân ngày nay. Làng Hòa Hảo là một địa danh khá nổi tiếng ở Nam Bộ vì mảnh đất này gắn liền với sự khai sinh một tôn giáo lớn ở Nam Bộ đó là Phật giáo Hoà Hảo. Từ sau ngày khai đạo (18 tháng 5 năm Kỷ Mão 1939), địa danh Hòa Hảo trở thành một thành tố trong cấu thành danh xưng của tôn giáo Phật giáo Hòa Hảo. về danh nghĩa thì tên làng Hòa Hảo nay chỉ còn là tên gọi của quá khứ. Chưa có tài liệu lịch sử nào cho biết tên làng Hòa Hảo đặt ra từ bao giờ. Nhưng tên làng Hòa Hảo đã xuất hiện trên bản đồ vào năm 1901 (Monographie de la province de Châu Đốc, 1905) và chắc hẳn tên làng Hòa Hảo đã được đặt ra từ trước đó. Theo GĐTTC biên soạn vào cuối đời Gia Long thì đất làng Hòa Hảo hiện nay thuộc huyện Vĩnh An, tổng Vĩnh Trinh (gồm Tân Châu và Cái Tàu Thượng). Trong nhiều tư liệu xuất bản năm 1917,1939,1955 thi tên làng Hòa Hảo thuộc tổng An Lạc quận Tân Châu. Tháng 12/1975, làng Hòa Hảo tách thành thị trấn Mỹ Lương và xã Phú Hòa, sau đó đổi thành thị trấn Phú Mỹ và xã Tân Hòa trong đó xã Phú Mỹ có thể được coi như tiêu biểu của làng Hòa Hảo xưa. Trên bản đồ trước năm 1975, người ta ghi trong ngoặc tên làng Hòa Hảo bên cạnh ấp Trung 1 của thị trấn Phú Mỹ.

KINH THẦN NÔNG

Thuộc huyện Phú Tân ngày nay, xưa còn gọi là kinh Mới, đào vào năm 1882 (đào trước khi xây chợ Tân Châu 15 năm, chợ Tân Châu xây dựng năm 1897). Mục đích khi đào kênh này là nhằm nối liền kênh Vĩnh An từ xã Phú Vĩnh với Cái Đầm, một ngọn rạch ăn thông ra sông Hậu thuộc xã Hiệp Xương, và làm cho nước giữa đồng ruộng rút xuống kênh để khai thác các vùng đất còn bỏ hoang. Lúc đó kinh này chỉ lưu thông vào mùa nước lũ (tháng 8 đến tháng 11 dl), còn mùa khô thì khô cạn, dân phải đào giếng để lấy nước xài.

Tục truyền, hồi xưa vùng này có một giống chim to gọi là “chim Nông” (còn gọi là Già Đảy, Bồ Nông) thường theo chim cồng cộc phá hại mùa màng. Khi ăn xong, chúng tụ lên một cái giồng khá to gần đấy để nghỉ ngơi. Nhân dân trong vùng ghép 2 chữ “Giồng” và “Nông” (tên của chim Nông) đặt cho tên kinh mới đào này là kinh Giồng Nông (ghép lại như chùa Giồng Thành Thượng). Sau thấy tên kinh Giồng Nông không phù hợp vùng đất được dẫn thủy nhập điền đã được khai thác, dân sửa thành kinh Thần Nông, lấy tích ông Thần Nông là một vị vua thời thượng cổ, trước vua “Nghiêu, Thuấn” bên Trung Hoa, có công dậy dân làm ruộng.

LÁNG LINH

Trước đây là vùng đất trũng thấp (láng) còn gọi là “nê địa”, đây cũng là vùng đất hiểm trở với nhiều cây rừng rậm rạp, có nhiều rắn độc và chưa được khai phá. Để có nước, người dân phải đào đìa, từ đó khai phá dần lập nên các trại ruộng, về sau, ông Quản cơ Trần Văn Thành sử dụng địa thế hiểm trở của Láng Linh để khởi nghĩa chống Pháp, gây được tiếng vang qua cuộc khởi nghĩa Láng Linh - Bảy Thưa. Láng Linh phía bắc giáp núi Sam, phía đông nằm kề sông Hậu, phía tây dựa vào Thất Sơn. Đất Láng Linh ngày nay thuộc phạm vi huyện Châu Phú (Thạnh Mỹ Tây), Châu Thành, Tri Tôn.

LONG CHÂU HÀ (1950 -1954)

Tên tỉnh được thành lập trong kháng chiến chống Pháp (12/1950) gồm một phần tỉnh Long Xuyên, một phần tỉnh Châu Đốc (tức tỉnh Long Châu Hậu) và tỉnh Hà Tiên bao gồm 8 huyện: Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú A, Châu Thành, Thoại Sơn, Thốt Nốt, Giang Châu (tức huyện Hà Tiên) và đảo Phú Quốc. Cơ quan đầu não của tỉnh đặt ở Lung Lớn (Tám Ngàn). Năm 1951, hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên được sát nhập thành huyện Tịnh Biên. Tỉnh Long Châu Hà tồn tại đến năm 1954.

LONG CHÂU HẬU (1948 -1949)

Tên tỉnh được thành lập trong kháng chiến chống Pháp (6/1948) gồm 5 huyện nằm ở cánh tây sông Hậu là Tịnh Biên, Tri Tôn, Thoại Sơn, Châu Phú A (gồm cả TX Châu Đốc), Châu Thành (gồm cả TX Long Xuyên).

LONG CHÂU SA (1950 -1954)

Tên tỉnh được thành lập trong kháng chiến chống Pháp (12/1950) trên cơ sở sát nhập tỉnh Long Châu Tiền và tỉnh Sa Đéc bao gồm 7 huyện là Châu Thành (của Sa đéc), Lai Vung, Cao Lãnh, Tân Hồng (Hồng Ngự và một phần của huyện Tân Châu), Tân Châu, Phú Châu và Chợ Mới. Tỉnh Long Châu Sa tồn tại đến năm 1954.

LONG CHÂU TIỀN (1948 -1949)

Tên tỉnh thành lập trong kháng chiến chống Pháp (6/1948) gồm 5 huyện ở cánh sông Tiền là: Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Châu Phú B và Lấp Vò.

Giữa năm 1949, Tân Châu được tách thành hai huyện mới là Phú Châu và Tân Châu.

LONG SƠN

Xưa là tên của một thôn rất rộng chạy dài từ trên Tân Châu tới giáp ranh xã Phú Lâm. Đây là một thôn lịch sử của huyện Tân Châu vì nơi đây đặt huyện lỵ Đông Xuyên và bảo Tân Châu (dấu vết là chùa Giồng Thành hiện nay). Do đó, nông dân địa phương còn gọi thôn Long Sơn là “xóm huyện”, còn vàm rạch Cái Vừng là “vàm huyện”. Thôn này có một bãi cát lớn gọi là bãi cát Long Sơn, tục gọi cù lao Cái Vừng (di tích ngày nay là xã Long Thuận, Phú Thuận). Long Sơn còn được gọi là “Xóm vườn trầu ” vì là nơi tập trung trồng nhiều trầu, ngoài ra còn có nhiều vườn nhãn, tre mạnh tông.

LONG XUYÊN

Long Xuyên là tỉnh lỵ của tỉnh An Giang. Cuối thế kỷ XVIII, cư dân còn thưa thớt, thuộc địa bàn huyện Vĩnh Định, trấn Vĩnh Thanh. Năm 1832, vùng đất này thuộc huyện Tây Xuyên, phủ Tuy Biên; theo ý nghĩa là vùng đất bờ phía tây sông Hậu. Trước khi thực dân Pháp đến, vùng này được gọi là Đông Xuyên: thủ Đông Xuyên, sông Đông Xuyên, Đông Xuyên cảng đạo. Còn Long Xuyên lại là tên 1 đạo (đạo Long Xuyên) vùng đất Cà Mau thời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Lúc đó Cà Mau thuộc lãnh thổ Hà Tiên do Mạc Thiên Tứ làm tổng binh cai quản (nay thuộc Kiên Giang).

Năm 1867, sau khi chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, thực dân Pháp vẫn gọi Long Xuyên là Đông Xuyên theo tên gọi dưới thời Tự Đức. Đến năm 1868, Pháp chia An Giang thành 5 hạt tham biện là Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc, Cần Thơ và Sóc Trăng. Địa danh Long Xuyên chính thức ra đời từ năm 1868.

Năm 1899, thực dân Pháp đổi hạt Long Xuyên thành tỉnh Long Xuyên. Từ năm 1956 đến năm 1964, tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc được nhập thành tỉnh An Giang. Từ năm 1964 đến 1975, tỉnh An Giang được tách thành hai tỉnh Châu Đốc và An Giang, tỉnh Long Xuyên cũ được đặt tên là tỉnh An Giang. Tháng 12/1975, tỉnh An Giang được thành lập bao gồm Châu Đốc và Long Xuyên. Long Xuyên trở thành tỉnh lỵ (thị Long Xuyên) và được nâng thành thành phố Long Xuyên năm vào tháng 3/1999.

MẶC CẦN DƯNG

Kinh Mặc Cần Dưng thuộc huyện Châu Thành, còn có tên là Mặc cần Đăng. Mặc Cần Dưng chữ Hán là Hiến Cần Đà là nhánh sông, khúc rạch nhỏ, xét theo địa thế thì Mặc cần Dưng là một con rạch đổ ra sông Hậu, sau thành tên một cái chợ thuộc xã Bình Hoà huyện Châu Thành. Từ năm 1931, thực dân Pháp cho nạo vét và đào mở rộng kênh Mặc cần Dưng kéo dài đến kênh Tám Ngàn để tiếp nước cho các kênh Ba Thê, Tri Tôn và Tám Ngàn. Mãi đến năm 1942, mới nạo vét được kênh Tri Tôn kéo dài đến Mặc cần Dưng và đến sông Hậu.

NĂM NON

“Non ” thường chỉ những chỏm cao trong một dãy núi, còn gọi là “vồ”. Theo Nguyễn Văn Hầu (trong Thất Sơn mầu nhiệm), năm non chỉ 5 đỉnh cao của núi Cấm bao gồm:

- Vồ Bồ Hong: là đỉnh cao nhất của Thất sơn, cao 710 m, ngày xưa ít người lui tới. Giả thuyết cho rằng nơi này có nhiều côn trùng gọi là bồ hong sinh sống.

- Vồ Đầu: Là đỉnh cao đầu tiên của núi Câm tính từ phía bắc, cao 584 m.

- Vồ Bà: Cao 579 m, vồ này có điện thờ Bà Chúa Xứ.

-      Vồ Ông Bướm: (Ông Vôi) cao 480 m. Giả thuyết cho rằng xưa kia có 2 người Khmer lưu lạc giang hồ về cư trú nơi chỏm đá này, đó là ông Bướm và ông Vôi nên mới đặt tên như thế.

-     Vồ Thiên Tuế: Cao 514 m, nơi đây trước kia là rừng cây thiên tuế.

Thực tế hiện nay, núi cấm còn có nhiều “non” hơn nữa như vồ Chư Thần, vồ Cây Quế, vồ Mồ Côi, vồ Đá Dựng, vồ Pháo Binh....

NĂNG GÙ

Năng Gù là địa danh thuộc xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú cách thành phố Long Xuyên khoảng 30 km về hướng bắc. Trước là tên của 1 cù lao gọi là Năng Gù châu (theo Trương Vĩnh Ký), là một chỗ dùng để thu thủy lợi năm 1875 trên sông Hậu. Tiếng Khmer là Kòh Snêng kô nghĩa là sừng bò. Snêng kổ phát âm thành Năng Cù đọc lâu ngày thành Năng Gù. Cù lao Năng Gù ở về phía trước vàm dưới Vàm Nao. Cù lao quanh co và chỉ bằng phẳng hướng nam nên ghe xuồng phần nhiều theo hướng nam mà đi còn gọi là Xếp Năng Gù. Nguyễn Hữu Hiệp (Địa danh chí An Giang, 1995) có giải thích Năng Gù còn gọi là Hóa Cù Đà. Trước kia tại đây có một địa danh là Hóa Cù Đà. Năm 1975 vẫn còn ấp mang tên ấp Hóa Cù ở cồn Bình Thủy, phía dưới Năng Gù. Hóa Cù Đà nghĩa là con rạch (đà) được hình thành do hiện tượng hóa cù. Cù là loài rồng đầu nhỏ không sừng, chỉ loài sấu dữ ở Vàm Nao khi ấy. Ý nói vùng này trước là đất liền, sau bị xâm thực mạnh bởi mũi nước sông Tiền nên biến thành rạch.

NHÀ BÀNG (hoặc NHÀ BÀN)

Tên thị trấn và tên chợ thuộc xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên. Vùng này trước đây có nhà để hội họp, bàn luận công việc, về sau được dùng cho tên một thị trấn. Nam Kỳ phong tục nhân vật diễn ca của Nguyễn Liên Phong năm 1909 viết:

“...Đốc công tạo lập sở vườn

Thanh hoa đẳng vật coi thường vẻ vang

Cất bên một cái nhà bàn

Để khi ăn uống nghĩ an luận bàn

Sau lập chợ phố hai hàng

Người đều kêu chợ Nhà Bàn thành danh...”

Tuy nhiên nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hầu trong “Nửa tháng trong miền Thất Sơn” lại cho rằng “Trước kia khi chưa lập chợ, tại đây có một ngôi nhà sản xuất nhiều đệm bàng. Người ta cắt dây bàng về thật nhiều, đập cho dẹp lại như láng bố, rồi dệt thành đệm để phơi lúa, chầm nóp hoặc trải ra mà nằm thay cho chiếu. Sau khi mở chợ, người ta vẫn quen gọi như vậy nên thành danh là vùng Nhà Bàng”.

Quyết định Số 56-QĐ/HĐBT ngày 10/5/1985 thành lập thị trấn Nhà Bàng thuộc huyện Tịnh Biên.

NÚI CẤM

Là một trong những ngọn núi cao trong dãy Thất Sơn. Có nhiều giả thuyết về tên gọi núi Cấm. Theo Nguyễn Văn Hầu, giả thuyết đáng tin cậy là Phật Thầy Tây An đã cấm các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương lên đó cất nhà cửa hoặc chùa am để ở. Vì lẽ có người ở ăn tất sẽ có sự ô uế núi non, một nơi linh tú mà Phật Thầy nhận thây cần giữ gìn cho trong sạch. Cũng có giả thuyết cho rằng, Nguyễn Ánh khi bị quân Tây Sơn truy nã có lúc phải bỏ Phú Quốc vào núi này để trốn. Để cho tông tích khỏi tiết lộ, các cận thần của họ Nguyễn đã cấm dân chúng vào núi, viện cớ trong đó có nhiều yêu quái và ác thú (nhưng theo ghi chép của sách sử, Nguyễn Ánh chưa bao giờ đặt chân đến vùng núi Cấm). Cũng có giả thuyết khác cho rằng Đơn Hùng Tín (biệt danh của Lê Văn Tín, quê Cao Lãnh) có lúc dùng nơi này làm sào huyệt để xuất phát những trận cướp lớn. Do đó y cấm dân gian bén mảng tới để dễ bề ngăn chặn lính kín Tây (Nguyễn Văn Hầu, Nửa tháng trong miền Thất Sơn, Nxb Trẻ, 1996). Một cách lý giải khác cho rằng, núi này xưa có tên là núi Gấm vì đinh núi cao nên thường có những áng mây vắt ngang giông như gấm lụa, dần về sau, người ta đọc trại thành núi cấm.

NÚI SAM

Núi Sam cách thị xã Châu Đốc 5 km, cao 237 m, có chu vi 5 km. Tháng 9/1828, vua Minh Mạng cho dựng bia Vĩnh Tế Sơn. Giả thuyết cho rằng gọi núi Sam vì hình thù của núi giống như con sam, đầu quay về phía Tịnh Biên. Có tài liệu nói rằng núi Sam xưa kia gọi là hòn Sam do nơi đây tập trung nhiều loại sam biển, nằm trong Vịnh Thái Lan. Cũng có cách giải thích cho rằng vì trên núi có rất nhiều cây sam, một loại cây cho gỗ để đóng xuồng (ghe sam bảng), ngày nay vẫn còn nhưng ít. Núi Sam còn được gọi là Học Lãnh (Học: con sam; Lãnh: núi). Trước đây, núi Sam có nhiều cây phượng vĩ và huỳnh mai mọc từ các hốc núi. Vào mùa trổ bông, cảnh núi toàn một màu đỏ thắm rất tươi đẹp và rực rỡ. Có giả thiết cho rằng núi Sam là một trong 7 núi tiêu biểu của rừng núi Thất Sơn. Núi Sam có nhiều di tích nổi tiếng như Tây An Tự, miếu Bà Chúa Xứ, lăng Thoại Ngọc Hầu... là một thắng cảnh, hằng năm thu hút hàng triệu người đến tham quan.

ÓC EO

Óc Eo là tên của một vùng gò đất lẫn đá nổi lên trên một cánh đồng phía nam núi Ba Thê. Năm 1944, từ các thông tin trong các tài liệu lịch sử và thư tịch cổ, ông Louis Malleret, một nhà khảo cổ học ở Trường Viễn Đông Bác cổ (Pháp) lúc ấy làm quản thủ Viện Bảo tàng Sài Gòn dã đến vùng óc Eo (nay thuộc thị trân Óc Eo, huyện Thoại Sơn) để khai quật dấu tích của một hải cảng đã bị sụp trong lòng đất và ông đã phát hiện ra dấu vết các di chỉ khảo cổ văn hóa Óc Eo. Đây là dấu tích của một nền văn minh lớn và rực rỡ đã một thời hiện diện từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VIII đã và đang được phát hiện ở nhiều nơi, trong đó tỉnh An Giang được xem là địa bàn trọng điểm tập trung nhiều nhất các loại hình di tích, di vật. Gò Óc Eo thuộc Ba Thê (huyện Thoại Sơn) là nơi đầu tiên tìm thấy những di chỉ quan trọng của nền văn minh cổ xưa ấy, và Óc Eo đã trở thành tên gọi chung cho mọi di chỉ cùng loại được phát hiện ở các địa phương khác.

Qua nghiên cứu sử ký của Trung Hoa, giáo sĩ Hail (người Anh) còn cho biết có một địa danh gọi là “Óc Eo ”. Đó chính là một hải cảng lớn, một trung tâm thương mại của người ngoại quốc ngày xưa trên đất Phù Nam.

PHỦ THỜ

Tên một địa danh ở cù lao Giêng thuộc ấp Bình Quới, xã Bình Phước Xuân (Chợ Mới) được dùng đặt tên cho một bến đò gọi là bến đò Phủ Thờ, một cái chợ gọi chợ Phủ Thờ. Phủ Thờ là ngôi nhà lớn (phủ đường) dành thờ cúng, làm lễ giỗ cho một kiểng họ (cánh họ). Đây nói về họ Nguyễn của ông Nguyễn Văn Núi từ Bình Định vào khai khẩn lập nghiệp ở đây. Đầu tiên khẩn đất ở Mỹ Luông (bờ sông Tiền đối diện Phủ Thờ) rồi mạo hiểm qua cù lao Giêng cất chùa, đánh cọp, phá rừng, học võ nghệ.

TÂN CHÂU

Tân Châu là một trong 3 đạo được chúa Nguyễn Phúc Khoát thành lập năm 1757 cùng với đạo Châu Đốc ở Hậu Giang (đồn quân đóng ở Mok Chruk tức Châu Đốc) và đạo Đông Khẩu (đồn quân đóng ở Sa Đéc). Các tướng của chúa Nguyễn là Nguyễn Cư Trinh và Trương Phước Du đặt đạo Tân Châu ở Tiền Giang, đồn quân đóng ở Koh Teng, tức Bãi Dinh, ngày nay gọi là cù lao Giêng. Năm 1832, đời Minh Mạng thứ 13, Tân Châu trở thành quận lỵ của huyện Đông Xuyên, thuộc Phủ Tân Thành. Quận lỵ Đông Xuyên nay thuộc xã Long Sơn huyện Phú Tân. Năm 1870, thực dân Pháp lập quận Tân Châu, quận lớn nhất của tỉnh Châu Đốc gồm 3 tổng là An Thành, An Phước, An Lạc. Hiện nay Tân Châu là một thị xã của tỉnh An Giang.

THẤT SƠN

Là 7 núi được coi là tiêu biểu cho dãy Thất Sơn trong số 37 núi được biết đến ở An Giang thuộc 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên. Trong Đại Nam nhất thống chí, từ “Thất Sơn ” lần đầu tiên được ghi vào sách và chỉ đó là các núi: Tượng Sơn, Tô Sơn, Cấm Sơn, Ốc Nhẫm, Nam Vi, Tà Biệt, Nhân Hoà. Hiện nay có nhiều cách xác định khác nhau về Thất Sơn (7 núi). Hồ Biểu Chánh (Thất Sơn huyền bí), Nguyễn Văn Hầu (Thất Sơn mầu nhiệm) cho rằng đó là các núi: Tô, Cấm, Trà Sư, Két, Dài, Tượng, Bà Đội Om. Có giả thiết như Trần Thanh Phương (Những trang về An Giang, 1984) cho rằng đó là các núi: Cấm (Thiên Cấm Sơn), Dài năm giếng (Ngũ Hồ Sơn), Tô (Phụng Hoàng Sơn), Giài (Dài), (Ngọa Long Sơn), Tượng (Liên Hoa Sơn), Nước (Thủy Đài Sơn), Két (Anh Vũ Sơn). Cũng có giả thiết cho rằng 7 núi là các núi: Cấm, Dài, Tô, Phú Cường, Nam Qui, Sam, khối núi Trà Sư (gồm núi Giài, Két, Trà Sư...); hoặc đó là các núi: Sam, Tô, cấm, Bà Đội Om, Nam Qui, Phú Cường, núi Dài (Ngọa Long Sơn).

THOẠI HÀ

Năm 1817, khi Thoại Ngọc Hầu về trấn thủ trấn Vĩnh Thanh, thấy việc giao thông thương mại ở vùng đất này gặp nhiều khó khăn, mọi trao đổi hàng hóa thời bấy giờ giữa miền duyên hải Hà Tiên, Rạch Giá (nay đều thuộc tỉnh Kiên Giang) đều phải đi vòng đường biển thật bất tiện. Và cũng nhận thấy cần phải khơi nguồn để tháo bớt một phần nước lụt của sông Hậu ra biển Rạch Giá. Vì hai lẽ đó, ông đã nghĩ ngay đến việc phải đào một con kênh. Việc trình lên, vua đồng ý. Kênh khởi công vào đầu năm 1818 (công việc chuẩn bị từ cuối năm 1817), nối rạch Đông Xuyên (nay gọi là rạch Long Xuyên) ở Tam Khê với ngọn Giá Khê (Rạch Giá, Kiên Giang), huy động khoảng 1.500 nhân công. Nhờ đào theo lạch nước cũ nên công việc khá thuận lợi, hơn một tháng đã hoàn thành với bề rộng 20 tầm (51,2 m), chiều dài 12.410 tầm (31,744 km). Kênh được đào xong, vua Gia Long khen ngợi cho lấy tên Thoại Ngọc Hầu đặt cho kênh là Thoại Hà.

THOẠI SƠN

  Tên xưa là Lạp Sơn, hay Sập Sơn, thuộc huyện Vĩnh Định, sách ĐNTNC ghi núi cao 20 trượng, chu vi 11 dặm, có suối thơm (Hương Tuyền), hướng tây chảy ra sông. Dưới chân núi hướng tây nam có hòn Núi Cậu (Bửu Sơn) cao 7 trượng, châu vi 1 dặm, đường sông noi theo Ba Rạch, có bùn lầy cỏ lác mọc dầy phải chờ có mưa lớn nước dâng cao thuyền ghe mới đi được. Cuối năm 1817, vua sai Trấn thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Thoại mở rộng và vét sâu thêm. Kênh được đào xong (1818), vua khen ngợi cho lấy tên Thoại Ngọc Hầu đặt tên cho kênh là Thoại Hà, núi Sập cũng được gọi là Thoại Sơn.

Thoại Sơn ngày nay là 1 trong 11 đơn vị hành chánh cấp huyện của tỉnh với nông nghiệp phát triển chủ yếu là cây lúa.

TỨC DỤP

Tức Dụp là tên một ngọn đồi của núi Tô, nằm trong dãy Thất Sơn hùng vĩ, nay thuộc xã An Tức, huyện Tri Tôn. Tức Dụp là một thắng cảnh và là một di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ. Đồi Tức Dụp cao 216m, diện tích khoảng 2km2 với nhiều mạch nước ngầm.

Tức Dụp được phiên âm từ tiếng Khmer, có nghĩa là “nước đêm”. Người ta giải thích, chính vì nơi đây có nhiều mạch nước ngầm nên ban đêm, người dân thường đến để lấy nước về phục vụ cho sinh hoạt. Tuy nhiên, có một cách lý giải khác, hiện nay người Khmer ở địa phương vẫn gọi là “Tưk Chúp” (không phải Tức Dụp). Bản đồ trước 1975 và các sách, báo, văn bản cũng ghi là “Tưk Chúp”. Nghĩa của Tưk Chúp là “nước thần”, do các mạch nước chảy mãi không bao giờ cạn nên người dân cho đó là nguồn nước của thần thánh.

Trong 2 cuộc kháng chiến, đồi Tức Dụp là căn cứ cách mạng của Tỉnh ủy, Huyện ủy và các lực lượng vũ trang tỉnh An Giang. Thời chống Mỹ, Tức Dụp còn là chiếc cầu quan trọng “cõng” các đơn vị chủ lực từ miền Bắc vào Nam bằng hành lang biên giới Campuchia vào miền Tây Nam Bộ để làm nên những chiến thắng lẫy lừng.

Tức Dụp còn được gọi là ngọn đồi “Hai triệu đô la”. Có một số lý giải về “biệt danh” này. Tuy nhiên, giả thuyết cho rằng biệt danh “Hai triệu đô la” có nguồn gốc từ một bản tin của hãng thông tấn UPI (Mỹ) năm 1971 được nhiều người đồng tình hơn. Bản tin viết: trị ngọn đồi chiều cao không quá 200 mét này cứ leo thang vùn vụt. Từ lúc tướng hai sao Et - Ca tự tay bắn quả pháo thứ bốn trăm ngàn lẻ một (400.001) thì ngọn đồi trần trụi này được ông ta trị giá một triệu đô la. Qua 9 tháng 8 ngày bị bao vây, ngọn đồi tai hại này tăng giá khủng khiếp: 2 triệu rưỡi đô-la và 4.000 sinh mạng binh sỹ đủ loại, đủ cỡ...

Thông điệp của đoạn tin: Đô la (tiền của của Mỹ) cộng với xác binh sĩ (VNCH) - cái cốt lõi của “Việt Nam hóa chiến tranh” - đã không thể giúp Mỹ đạt được mục tiêu.

TRI TÔN

Là một trong 2 huyện miền núi của tỉnh An Giang, cách thành phố Long Xuyên 54 km về phía tây. Tri Tôn tiếng Khmer là Svayton (còn viết Xvayton, Xvaton), người Kinh phát âm là Xà Tón. Hiện có 2 cách giải thích về nghĩa của địa danh này:

Cách thứ nhất: Svaton nghĩa là “khỉ níu kéo” (sva: khỉ; ton: đeo, níu kéo). Theo lời kể xa xưa thì vùng này rất hoang vu, cây cối rậm rạp, rừng có nhiều giống khỉ nhỏ con nhưng rất dạn, dám ra đón khách và níu kéo không cho đi hoặc xin ăn nên đặt tên cho vùng này là “khỉ níu kéo”.

Cách thứ hai: Svayton nghĩa là “xoài dây” (svay: xoài; ton: dây, cuống). Ở Tri Tôn ngày nay vẫn còn ngôi chùa tên chùa Xà Tón (Svayton). Theo lịch sử ngôi chùa, xưa kia, chùa này được xây dựng trên nền đất giữa rừng, có một cây xoài vươn cao hơn những cây khác để ủm ánh sáng, vì vậy trông nó giống như dây leo hơn là cây thân gỗ, rất khác so với những cây còn lại. Chính sự khác thường này mà người ta cho đây là điều linh thiêng nên các sư chọn nơi đây dựng chùa và đặt tên là Svayton. Chùa Xà Tón được Bộ Văn hoá công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

VÀM NAO

Là tên con sông nối liền sông Tiền và sông Hậu, hiện nay được lấy làm ranh huyện giữa huyện Chợ Mới và Phú Tân. Vàm Nao còn được gọi là Vàm Lao, Vàm Giao, do tiếng Khmer gọi là Pàm Prêk Náv. Pàm âm ra là “vàm” nơi sông nhỏ giao nhau với sông lớn, Prêk là sông suối nhỏ, hợp lại gọi là Vàm Nao. Sông này trước đây có nhiều cá sấu, cá mập và sóng to, ghe thuyền qua lại rất nguy hiểm:

Thuyền xuôi Châu Đốc, thả xuống Vàm Nao

Thẳng tới Ba Sao, coi chừng con ác đấy.

Theo cổ sử thì sông Vàm Nao xưa gọi là Hồi Oa Thủy (nước xoáy tròn). Sở dĩ có hiện tượng này là vì hằng năm, khi nước lũ sông Cửu Long dâng lên từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch thì nước chảy cuồn cuộn như thác lũ, tại sông Vàm Nao nước chảy rất xiết, có sóng to, xoáy tròn như trôn ốc nên được gọi là Hồi Oa. Những dòng nước xoáy này xảy ra liên tục làm sự lưu thông trở nên khó khăn, người chưa từng kinh nghiệm đi trên dòng nước xoáy nguy hiểm này dễ bị đắm thuyền.

Về sau, có lẽ vì muốn cho sông Vàm Nao được bình yên nên người dân (hoặc nhà chức trách) đổi tên là sông Thuận hay Thuận An. Sông Vàm Nao ngày nay có chiều dài trên 6 km, chiều rộng bình quân 700 m với độ sâu trên 17 m. Dòng sông chảy hiền hoà hơn và có tác dụng làm cân bằng dòng chảy giữa 2 sông Tiền và sông Hậu, đoạn từ phía dưới Vàm Nao.

“Nam kỳ phong tục nhân vật diễn ca” viết:

Vàm nao chữ đặt Hồi Oa,

Chỗ nhằm mũi nước chảy qua quanh dòng

Sông sau, sông trước hai dòng

Phân ra hai ngã ngoài trong vận dào

Các ngã gần chảy nhập vào

Tục kêu là xứ Vàm Nao rõ ràng VÀM ÔNG CHƯỞNG

Vàm ông Chưởng còn gọi Lễ Công giang, sông ông Chưởng, lòng ông Chưởng (lòng là một trong những danh từ chỉ sông). Ông Chưởng tức Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Tên “Ông Chưởng” được đặt cho con sông và cù lao là do nhân dân ghi nhớ công lao của vị công thần có công dẹp giặc, mở rộng và giữ yên bờ cõi quốc gia ở khu vực này. Mùa xuân năm Canh Thìn (1700), Nguyễn Hữu Cảnh đem quân kinh lược Chân Lạp. Xong việc, ông rút quân xuôi dòng Hậu Giang về đóng quân tại cù lao Cây Sao (sau này được đổi tên thành cù lao Ông Chưởng) để chờ lệnh chúa Nguyễn và ông lâm bệnh tại đây. Sau đó, ông kéo quân về và mất tại Rạch Gầm (Mỹ Tho) ngày 16/ 5/1700 (năm Canh Thìn). Sông Ông Chưởng chạy quanh co qua một số địa danh đã có từ lâu như: Cái Hố, Sóc Chét, Xẻo Môn, Trà Bư, Chưng Đùn, Chà Và, Cà Mau, Cái Xoài..

VĨNH TẾ

Vĩnh Tế là tên của một con kinh nổi tiếng được nhà Nguyễn cho đào dưới sự chỉ huy của Trấn thủ Vĩnh Thanh Nguyễn Văn Thoại, khởi công từ năm 1819 đến năm 1824 thì hoàn thành. Kênh dài ngót 90 km chạy song song với đường biên giới Việt Nam - Campuchia, kéo dài từ Châu Đốc đến tận Hà Tiên, có khối lượng đào đắp lên đến hàng chục triệu mét khối, huy động trên 80.000 lượt người. Vtên con kinh, nhiều sách ghi rằng do Thoại Ngọc Hầu phu nhân là Châu Thị Vĩnh Tế (1766 -1826) có công giúp chồng trong việc đốc suất đào kinh nên được vua cho đặt tên kinh là “Vĩnh Tế” để ghi công. Tuy nhiên, gần đây, một số nhà nghiên cứu cho rằng đó chỉ là huyền thoại, với lý lẽ: Bia Vĩnh Tế Sơn khi tìm thấy không còn nguyên vẹn nên không có nguyên văn bản “văn bia ”; chưa tìm thấy tài liệu nào ghi Thoại Ngọc Hầu phu nhân là Châu Thị Vĩnh Tế mà bia mộ của bà (tại núi Sam) ghi là “Châu Thị Tế”; tên kinh Vĩnh Tế đã có trong các chỉ dụ của vua trong quá trình đào, không phải sau khi hoàn thành mới đặt tên. Vấn đề này còn cần phải tiếp tục nghiên cứu.

Tháng 9/1928, bia Vĩnh Tế Sơn được dựng bên bờ sông. Đến năm 1836, triều đình Huế cho khắc hình kênh Vĩnh Tế vào Cao Đỉnh, đỉnh cao nhất trong Cửu Đình (bảo vật quốc gia).

Vĩnh Tế còn là tên của 1 xã thuộc thị xã Châu Đốc ngày nay.

VĨNH THÔNG

Địa danh thuộc huyện Tri Tôn, gắn liền với tên một cây cầu sắt nổi tiếng được gọi là cầu Sắt Vĩnh Thông trong kháng chiến chống Pháp, thể hiện qua câu hát:

“Ai đi Vĩnh Thông, ghé qua cầu Nghe con trẻ hát lanh lãnh chiều ơ...ba phen quạ nói với diều Vĩnh Thông, cầu sắt có nhiều xác Tây"

Trận đánh Vĩnh Thông tháng 6/ 1949 do 2 đại đội vệ quốc đoàn 2005 và 2006, tiêu diệt gần 3 đại đội lính thiện chiến thuộc binh đoàn NEO Lê Dương đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh kháng chiến chống Pháp của dân quân tỉnh An Giang.

VỊNH ĐỒN

Theo ĐNNTC, đồn này xưa nguyên là “bảo Châu Giang” có chu vi 28 trượng, đồn có hình bán nguyệt ở huyện hạt Đông Xuyên (Tân Châu ngày nay). Năm 1844 (đời Thiệu Trị thứ 4), bảo Châu Giang được dời về gần sông Tân Châu và đặt tên mới là bảo Chàng Tượng có nghĩa là vùng này coi toàn vùng Tượng Phụ. Nguyên do là vì giữa khoảng sông Tân Châu khi ấy có một cái gò dài tục danh là “Tượng Phụ ” (Gò Voi), phía trên tiếp giáp núi Phù Sơn (gọi là núi Nổi). Đồn này nằm phía trên sông Tân Châu (kinh Vĩnh An hiện nay) bên hữu ngạn sông Tiền, cách dưới Miễu Hội Thượng 200 m, nhưng lại nằm trong một cái vịnh khá to tục gọi “Vịnh Đồn”, nghĩa là cái đồn trong cái vịnh. Tên bảo Chàng Tượng dần mất đi, thay thế bằng địa danh Vịnh Đồn. Người dân thường nói “lên Vịnh Đồn” để mua tơ lụa và hàng hóa vì ở đây có một chợ gọi là chợ Vịnh Đồn

 

LIÊN KẾT HỮU ÍCH
Xổ số
Chứng khoán HCM Chứng khoán HN Truyền hình
ĐIỂM SÁCH
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
 
THỐNG KÊ
Tổng số lượt xem: 634985
 
Văn bản pháp luật Thông tin chuyên đề Kỷ yếu Hội thảo KH Lễ hội truyền thống Giải trí Nhân vật sự kiện
Copyright © 2009 THU VIEN AN GIANG Design by Tri Thuc Địa chỉ: 16 Lê Triệu Kiết, P.Mỹ Bình, Tp.Long Xuyên, Tỉnh An Giang.
Điện thoại: (076) 3954184 - 3954185
Fax:(076) 3954184